6 Tương tác trong hệ sinh thái sinh học và phi sinh học

Hãy cùng tham khảo ngay bài viết 6 Tương tác trong hệ sinh thái sinh học và phi sinh học
được cập nhật ngày 2022-01-14 15:50:18 để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhé

Trái đất là một trong những hành tinh của hệ mặt trời có sự sống (đọc: Các hành tinh trong hệ mặt trời và giải thích về nó). Trái đất là nơi sinh sống của nhiều sinh vật. Bên trong trái đất có rất nhiều hệ sinh thái là môi trường sống của nhiều loài sinh vật. Hệ sinh thái trên trái đất có nhiều loại do sự khác nhau về địa điểm và các sinh vật sống trong đó. Sự khác biệt này xảy ra do các dạng bề mặt khác nhau (Đọc: Cứu trợ bề mặt đất và đại dương). Sự khác biệt này xảy ra do sức mạnh đến từ bên trong và bên ngoài trái đất. Năng lượng này định hình vỏ Trái đất thành nhiều dạng (Đọc: Các lực hình thành bề mặt Trái đất và các tác động của chúng). Vỏ trái đất là lớp trên cùng của trái đất (Đọc: Vỏ trái đất và giải thích). Bản thân trái đất bao gồm một cấu trúc phân lớp tạo nên trái đất (đọc: Cấu trúc và Giải thích các lớp của Trái đất). Và vỏ trái đất với tư cách là lớp ngoài cùng là nơi sinh sống của các sinh vật.

Mỗi hệ sinh thái trên trái đất đều có những đặc điểm riêng. Chính những đặc điểm này đã tạo nên sự khác biệt giữa các hệ sinh thái. Trên trái đất, các hệ sinh thái được chia thành 2 hệ sinh thái lớn. Cụ thể là hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái dưới nước. Hệ sinh thái trên cạn trong đó bao gồm nhiều hệ sinh thái đại diện cho các vùng tương ứng. Ví dụ, có hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái hoang mạc, hệ sinh thái núi, hoặc hệ sinh thái ven biển. Trong khi nước có hệ sinh thái riêng. Có hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái biển. Các sinh vật sống trong hệ sinh thái biển, được phân biệt bằng mức độ sâu của vùng biển nơi chúng sinh sống. Một số loài động vật biển có thể sống ở độ sâu lớn, vì vậy chúng không cần ánh sáng mặt trời để sống.

Con người trên trái đất giao tiếp với nhau để đạt được mục tiêu. Giao tiếp trong đời sống con người là một dạng tương tác. Trong mỗi hệ sinh thái đều có các mối tương tác. Giống như giao tiếp giữa con người với nhau để đạt được mục tiêu, các tương tác trong hệ sinh thái cũng có mục tiêu. Nơi mà mục tiêu là để sinh tồn hoặc chỉ làm phiền các sinh vật khác. Trong một hệ sinh thái có các yếu tố sinh học và phi sinh học. Các yếu tố sinh học là các sinh vật sống trong chính hệ sinh thái. Trong khi các yếu tố phi sinh học là những yếu tố vô tri vô giác như ánh sáng mặt trời, gió và nước. Tương tác trong hệ sinh thái được chia làm 2, đó là tương tác giữa hữu sinh và hữu sinh và tương tác giữa hữu sinh và phi sinh vật.

Sự tương tác giữa Biotic với Biotic trong hệ sinh thái

Biotics là những sinh vật tồn tại trong mọi hệ sinh thái. Mọi sinh vật đều có vai trò trong sự cân bằng của hệ sinh thái. Trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật và sinh vật hữu sinh trong hệ sinh thái, có 6 kiểu tương tác trong hệ sinh thái. Chúng thuộc loại nội đặc hiệu, liên đặc hiệu, cộng sinh, kháng khuẩn, giảm bệnh và trung tính.

1. Intraspesifik

Intraspecific là kiểu tương tác xảy ra giữa các sinh vật cùng loài trong hệ sinh thái. Trong các tương tác nội đặc hiệu, thường xảy ra ở các sinh vật sống thành khuẩn lạc. Các sinh vật sống ở thuộc địa thường có hệ thống phân công lao động cho mọi sinh vật sống trong thuộc địa. Sự phân công lao động ở thuộc địa này là tuyệt đối, không thể thay đổi. Mỗi thuộc địa sẽ có một thủ lĩnh, người cũng có nhiệm vụ riêng của họ.

Một ví dụ về tương tác nội đặc hiệu là tương tác xảy ra trong một đàn kiến. Kiến là một trong những loài động vật sống theo bầy đàn có trật tự nghiêm ngặt. Sự phân công lao động trong đàn kiến ​​rất rõ ràng và chắc chắn. Trong một đàn kiến ​​có kiến ​​thợ phụ trách việc tìm kiếm thức ăn, kiến ​​chiến binh làm nhiệm vụ canh giữ tổ. Ngoài ra có một con kiến ​​chúa. Kiến chúa là một trong những loài kiến ​​rất thích bay. Kiến chúa có nhiệm vụ đẻ trứng đẻ ra nhiều kiến ​​thợ. Ngoài kiến, còn có đàn ong. Đàn ong cũng có sự phân công lao động. Trong đàn ong có ong thợ, ong lính và ong chúa.

2. Interspesifik

Interspecific là một kiểu tương tác xảy ra giữa các loại sinh vật khác nhau trong một quần xã. Trong một quần xã, mọi sinh vật đều có thể tương tác với nhau. Sự tương tác này không nhất thiết phải xảy ra ở một loài. Nhưng nó cũng có thể xảy ra giữa các loài sinh vật khác nhau. Trong các tương tác giữa các loài, nó được chia thành 2, đó là săn mồi và cạnh tranh.

  • Ăn thịt là một hình thức tương tác trong đó động vật săn mồi của động vật khác. Động vật săn mồi thường được gọi là động vật săn mồi. Động vật ăn thịt còn có vai trò cân bằng hệ sinh thái. Vì chính động vật ăn thịt có khả năng điều hòa số lượng quần thể trong hệ sinh thái. Ví dụ về tương tác săn mồi là sư tử ăn ngựa vằn, đại bàng ăn thỏ hoặc rắn ăn chuột.
  • Cạnh tranh là một kiểu tương tác giữa các loài, ở đó các loài này cạnh tranh với nhau về thức ăn. Cạnh tranh không chỉ xảy ra trong thế giới của các loài động vật săn mồi. Nhưng nó cũng xảy ra trong thế giới của động vật ăn cỏ. Như ngựa vằn và ngựa tranh giành cỏ hay sư tử giành thức ăn của linh cẩu. Ngoài ra, cạnh tranh cũng xảy ra trong một loài, chẳng hạn như cạnh tranh về con cái, hoặc cạnh tranh về lãnh thổ.
See also  Lý thuyết ngành: Định nghĩa và Giải thích (Có Hình ảnh)

3. Cộng sinh

Cộng sinh là mối quan hệ giữa các sinh vật trong hệ sinh thái. Sự cộng sinh này có thể có lợi hoặc thậm chí có hại cho các sinh vật sống khác. Trong tương tác cộng sinh, nó được chia thành 1, đó là cộng sinh tương hỗ, cộng sinh đồng loại và cộng sinh ký sinh.

  • Cộng sinh tương hỗ là sự tương tác giữa 2 loài trong một hệ sinh thái, ở đó sự tương tác này có lợi cho cả hai bên. Một ví dụ về sự cộng sinh này là mối quan hệ giữa chim sáo và trâu. Chim sáo ăn rận trên thân trâu, như vậy có lợi cho cả trâu rừng và chim sáo. Cũng như mối quan hệ giữa ong và hoa. Nơi hoa nuôi ong, và ong giúp hoa trong quá trình thụ phấn.
  • Cộng sinh Commensalism là cộng sinh có lợi cho một bên nhưng không gây hại cho bên kia. Một ví dụ về sự cộng sinh này là mối quan hệ giữa cá mập và cá remora. Những con cá remora bơi sau bụng cá mập để tìm kiếm sự bảo vệ và kiếm thức ăn. Và các cá mập không thu được bất kỳ lợi nhuận nào.
  • Cộng sinh ký sinh là sự cộng sinh có lợi cho bên này và gây hại cho bên kia. Một ví dụ về sự cộng sinh này là một loài thực vật ký sinh sống trên các cây khác bằng cách lấy thức ăn từ các cây khác.

4. Chống vi khuẩn

Tương tác kháng sinh là tương tác xảy ra giữa 2 sinh vật, trong đó một sinh vật tiết ra chất độc để giết chết và làm tê liệt sinh vật khác. Trong sự tương tác này, có thể nói rằng những sinh vật này ức chế sự phát triển của các động vật khác bằng cách tiết ra chất độc xung quanh cơ thể chúng và xung quanh lãnh thổ của chúng. Một ví dụ về tương tác kháng sinh là mối quan hệ giữa nấm penicillium và vi khuẩn. Nấm penicillium tiết ra một chất kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn sống xung quanh nó.

5. Bệnh lý Aleopathy

Tương tác thuốc kháng sinh tương tự như tương tác thuốc kháng sinh. Cả hai loại này đều tạo ra chất độc có thể giết chết hoặc ức chế sự phát triển của các sinh vật sống khác. Các tương tác của chất Alleopathic thường chỉ xảy ra trong thế giới thực vật. Những cây tương tác với cây hoa lá sẽ thắng trong cuộc cạnh tranh tìm kiếm thức ăn hoặc ánh sáng mặt trời.

Một ví dụ về sự tương tác giảm đau là cây frangipani tiết ra chất độc xung quanh cơ thể của nó. Chất độc này làm cho đất trở nên bạc màu, và giết chết cỏ xung quanh nó. Ngoài ra có một cây óc chó. Cây óc chó không bao giờ bị cỏ và ký sinh, vì vỏ của cây óc chó tiết ra chất độc có thể giết chết các cây khác.

See also  Fourfourtwo có nghĩa là gì

6. Trung lập

Tương tác trung hòa là mối quan hệ giữa hai loại sinh vật không cùng có lợi hoặc đôi bên cùng có lợi. Đây là kết quả của nhu cầu của hai sinh vật là khác nhau mặc dù chúng sống trong cùng một hệ sinh thái. Một ví dụ về sự tương tác này là giữa một con kiến ​​và một con bướm trong cùng một bông hoa.

Sự tương tác giữa Biotic và Abiotic trong hệ sinh thái

Tương tác giữa sinh vật và phi sinh học là sự tương tác xảy ra giữa sinh vật sống và thiên nhiên xung quanh chúng. Sự tương tác này là cần thiết của tất cả các sinh vật. Sự tương tác này xảy ra giữa tất cả các sinh vật với nước, không khí và ánh sáng mặt trời. Một ví dụ về sự cộng sinh này là mối quan hệ giữa mặt trời và các sinh vật. Mặt trời rất hữu ích trong quá trình quang hợp của thực vật. Ngoài ra, mặt trời còn giúp ích cho một số loài động vật trong việc tìm kiếm thức ăn.

Mối quan hệ giữa không khí và sinh vật là không khí có chứa ôxi cho mọi sinh vật thở. Ngoài ra, không khí có chứa CO2 được tất cả thực vật sử dụng cho quá trình quang hợp. Không khí di chuyển, cụ thể là gió, giúp hoa trong quá trình thụ phấn. Gió cũng mang gió nóng đến những nơi mát mẻ hơn, vì vậy không có khu vực nào quá nóng hoặc quá lạnh. Nước là nguồn sống của mọi sinh vật. Nếu không có nước, từng sinh vật sẽ chết. Nước cũng có vai trò làm mát cơ thể giống như tê giác ngâm mình trong vũng bùn để làm mát cơ thể. Nước cũng có vai trò trong quá trình quang hợp của cây.

Các hệ sinh thái có các mô hình và tính độc đáo của riêng chúng. Sự cân bằng của hệ sinh thái cần được duy trì để không có thiệt hại cho trái đất (Đọc: Nỗ lực Duy trì Cân bằng Môi trường). Bảo vệ hệ sinh thái có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Một cách để bảo vệ hệ sinh thái có thể được thực hiện bằng cách bảo tồn động và thực vật.

Cũng đọc:

  • Vai trò của con người trong việc duy trì cân bằng môi trường
  • Đa dạng hệ sinh thái và các ví dụ
  • Hệ sinh thái môi trường: Định nghĩa, Vấn đề và Kiểm soát

Bài viết 6 Tương tác trong hệ sinh thái sinh học và phi sinh học
được chia sẻ bởi Thommatngaymua.com vào 2022-01-14 15:50:18

Leave a Comment