Đá trầm tích hữu cơ: Định nghĩa, các loại và ví dụ

Hãy cùng tham khảo ngay bài viết Đá trầm tích hữu cơ: Định nghĩa, các loại và ví dụ
được cập nhật ngày 2022-01-14 04:29:26 để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhé

Là vật liệu chủ đạo nhất cấu tạo nên vỏ trái đất, đá bao gồm một số loại. Mỗi loại đá được hình thành từ một quá trình tuần tự được gọi là chu kỳ đá. Về cơ bản có ba dạng đá chính được hình thành trong chu kỳ đá, đó là đá mácma, đá trầm tích và đá biến chất. (Vui lòng đọc các loại đá tạo nên các lớp của trái đất – đá lửa, trầm tích, biến chất)

Đá trầm tích hay còn gọi là đá trầm tích là loại đá được hình thành từ quá trình phong hóa tàn tích của các loại đá khác hoặc các khoáng vật khác đã được lắng đọng. Dựa vào quá trình hình thành, đá trầm tích được phân thành nhiều loại, một trong số đó là đá trầm tích hữu cơ.

Định nghĩa của đá trầm tích hữu cơ

Đá trầm tích hữu cơ, còn được gọi là đá trầm tích sinh học là loại đá được hình thành từ sự lắng đọng của tàn tích của các bộ phận cơ thể sống và các khoáng chất mà chúng tạo ra.

Thành phần đá trầm tích hữu cơ

Đá trầm tích hữu cơ được hình thành từ hoạt động của sinh vật (sinh vật), do đó tàn tích của sinh vật là phần chi phối lớn nhất trong việc cấu tạo nên cấu trúc của đá trầm tích hữu cơ. Các loại sinh vật khác nhau thường được tìm thấy để tạo nên đá trầm tích hữu cơ bao gồm: san hô, động vật thân mềm, foraminifera, tảo cát, radiolaria và một số loại thực vật.

  • San hô, thường được gọi là rạn san hô, là một nhóm động vật san hô cộng sinh với một số loại thực vật thuộc lớp tảo. Kết quả trầm tích san hô sẽ hình thành san hô.
  • Thân mềm, là một nhóm động vật ba nguyên bào slomata không có xương sống và thân mềm. Thường có lớp vỏ bảo vệ cơ thể. Ví dụ, động vật có vỏ, ốc, tôm và những thứ khác.
  • Foraminifera, là một loại sinh vật đến từ vương quốc bọt biển thường được gọi là động vật chân rễ (chân giả). Foraminifera rất giống với amip. Sự khác biệt là foraminifera có một lớp vỏ bảo vệ cơ thể của chúng.
  • Diatom, là một nhóm tảo đơn bào lớn được bao bọc trong thành tế bào silica.
  • Radiolaria, là một loại động vật phù du (vi sinh vật dị dưỡng không thể tự tạo thức ăn) có kích thước chỉ khoảng 0,05 – 0,1 mm.
  • Một số loại thực vật, trải qua một quá trình phong hóa rất dài, trở thành nguyên liệu tạo ra than đá.
See also  Husbando có nghĩa là gì?

Những sinh vật này tạo ra các khoáng chất ưu thế đặc trưng cho đá trầm tích hữu cơ. Cụ thể là silica và cacbonat. Đá trầm tích hữu cơ có đặc điểm là có màu sẫm đến đen.

Phân loại đá trầm tích hữu cơ

Dựa trên các khoáng chất chủ đạo được tạo ra, có hai loại đá trầm tích hữu cơ. Cụ thể là đá trầm tích silica và đá trầm tích cacbonat:

1. Đá trầm tích hữu cơ cacbonat

Đá trầm tích hữu cơ cacbonat là loại đá hữu cơ chiếm ưu thế nhất. Các sinh vật tạo ra những loại đá này bao gồm san hô, động vật thân mềm và foraminifera. Các khoáng chất chính tạo nên đá trầm tích cacbonat là các hợp chất cacbonat (CaCO3) ở dạng canxit. Ví dụ đá vôi.

2. Đá trầm tích hữu cơ silica

Các sinh vật tạo nên đá hữu cơ silicat là tảo cát và chất phóng xạ. Các loại tảo cát tạo ra các loại đá silica diatomite, trong khi đó, radiolaria sẽ tạo thành các loại đá silica radiolarit.

Ví dụ về đá trầm tích hữu cơ

Có rất nhiều ví dụ về các loại đá là một phần của đá trầm tích hữu cơ. Trong số các loại đá thường được thảo luận là đá, than đá và đá phốt phát.

Rạn san hô

Đá được hình thành từ các rạn san hô chết. Rạn san hô không thực sự là một sinh vật đơn lẻ, mà bao gồm một tập hợp các sinh vật nhỏ được gọi là đa trùng (porifera). Ở dạng đơn giản nhất, san hô chỉ gồm một polyp hình ống, có miệng ở đỉnh và được bao quanh bởi các xúc tu. Tuy nhiên, như ở hầu hết các loài động vật bậc thấp, các polyp sẽ phát triển thành nhiều cá thể tạo thành bầy đàn. Polifera có hình dạng độc đáo và tạo ra muối cacbonat (CaCO3). Do đó, các rạn san hô chứa rất nhiều hợp chất cacbonat.

See also  Hảo hán có nghĩa là gì? Sự thật nghĩa Hảo hán meme trên facebook

Trên các rạn san hô, có các lớp san hô hoặc các đàn san hô. Các khuẩn lạc chết sẽ lắng xuống lớp đáy và qua quá trình lắng sẽ trở thành đá san hô. Trong khi khuẩn lạc vẫn còn sống, nó sẽ dính vào đá. Và như thế. Trong một số điều kiện, một số đàn bọt biển trên các rạn san hô không tồn tại được do đó các rạn san hô hoàn toàn bị hóa đá. Các rạn san hô, cả quần thể sống và chết, đều là môi trường sống của một số loài cá.

Ngoài là môi trường sống của một số loại sinh vật, các rạn san hô còn có những lợi ích sau:

  • Bảo vệ hệ sinh thái ven biển, san hô được mang lên bề mặt tập hợp lại và tạo thành một lớp bảo vệ tự nhiên trên bờ biển. Những tảng đá này chịu được năng lượng của sóng đánh vào bãi biển, do đó ngăn chặn sự mài mòn của bãi biển.
  • Như ma túy. Ngoài các hợp chất cacbonat chiếm ưu thế, các rạn san hô còn chứa nhiều nguyên tố hóa học khác được cho là có thể điều trị một số bệnh. Nghiên cứu về vấn đề này vẫn đang tiếp tục.
  • Là một điểm thu hút khách du lịch, các rạn san hô có hình dáng rất đẹp có tiềm năng trở thành một điểm du lịch. Điều này là do các khuẩn lạc bọt biển tạo ra nó không chỉ từ một loài. Ngoài ra, các rạn san hô còn là nơi sinh sống của hầu hết các sinh vật biển.

Than đá

Than đá là một loại đá trầm tích hữu cơ dễ cháy được hình thành từ tàn tích của thực vật chết. Quá trình lắng đọng của các sinh vật này thành than diễn ra trong một thời gian rất dài.

See also  33. Ếch Đực “Cầu Hôn” Bằng Tiếng Hót -

Sự hình thành than đá chỉ xảy ra ở những thời kỳ nhất định trong lịch sử địa chất. Nhìn chung, than mà chúng ta khai thác ngày nay đến từ quá trình trầm tích diễn ra trong Thời đại Cacbon (340 triệu năm trước) và Kỷ Permi (270 triệu năm trước).

Than được hình thành từ sự lắng đọng của xác thực vật. Về cơ bản, tất cả các loại thực vật đều có khả năng bị lắng cặn thành than. Trong đó, phổ biến nhất là tảo, silofata, pteridophytes, hạt trần và thực vật hạt kín.

Quá trình hình thành than đá được gọi là sự kết hợp hoặc hòa giải. Tóm lại, nó diễn ra trong hai giai đoạn, đó là nghịch từ và thuận nghịch.

  • Quá trình từ tính hoặc sinh hóa, bắt đầu khi thực vật bắt đầu phân hủy cho đến khi tạo thành than non. Giai đoạn này chịu ảnh hưởng của hàm lượng nước, nhiệt độ và áp suất gây thối rữa và hình thành than bùn.
  • Malihan hay Quá trình địa hóa, giai đoạn này bao gồm quá trình biến đổi than non thành bitum và antraxit.

Cho đến nay, than vẫn là một trong những nhiên liệu hóa thạch được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp.

Đá phốt phát

Đá phốt phát là một loại đá có chứa khoáng chất và các ion phốt phát trong cấu trúc hóa học của nó. Đá phốt phát thực tế có nhiều thành tạo địa chất. Cả đá mácma, đá biến chất và đá trầm tích.

Đá photphat hữu cơ là photphat đá được hình thành từ sự tích tụ của phân dơi hòa tan và phản ứng với đá vôi do ảnh hưởng của nước mưa và nước ngầm. Do đó đá photphat hữu cơ còn được gọi là đá Guano.

Bài viết Đá trầm tích hữu cơ: Định nghĩa, các loại và ví dụ
được chia sẻ bởi Thommatngaymua.com vào 2022-01-14 04:29:26

Leave a Comment