Định nghĩa về thạch quyển và các ví dụ

Hãy cùng tham khảo ngay bài viết Định nghĩa về thạch quyển và các ví dụ
được cập nhật ngày 2022-01-14 08:53:02 để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhé

Thạch quyển có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, cụ thể là lithos có nghĩa là đá và quả cầu có nghĩa là các lớp. Về mặt từ nguyên, khái niệm thạch quyển có thể được hiểu là một lớp đá.

Thạch quyển là lớp ngoài cùng của trái đất (Mời bạn đọc phần Giải thích và cấu tạo các lớp của Trái đất), vì vậy đôi khithạch quyểnđôi khi còn được gọi là vỏ trái đất. Theo từ nguyên mà ông nói, thạch quyển thực sự được cấu tạo bởi các vật chất bao gồm các khoáng chất và đá khác nhau. Với độ dày khoảng 50 đến 100 km, thạch quyển là lớp mỏng nhất của trái đất. Vị trí của thạch quyển trong mặt cắt ngang của trái đất có thể được nhìn thấy trong hình dưới đây.

Vì vậy, theo địa lý học, thạch quyển là lớp ngoài cùng của trái đất bao gồm một số loại đá và khoáng chất với độ dày khoảng 50-100 km.

Do nằm ở phần ngoài cùng của trái đất nên cấu trúc của thạch quyển cũng có xu hướng lâu bền theo thời gian. Không giống như khí quyển tan chảy do kết quả của các quá trình địa chất, thạch quyển vẫn vững chắc trong các thời kỳ địa chất dài. Thạch quyển thay đổi để trở nên đàn hồi hơn do các vết nứt trên các bộ phận của nó gây ra bởi các hoạt động núi lửa như phun trào magma. Tính chất này là nguyên nhân khiến thạch quyển là lớp cấu trúc mạnh nhất của trái đất.

Dựa trên một bài báo do Barrel viết vào năm 1914, người ta giải thích rằng thạch quyển ban đầu là một mảng kiến ​​tạo rất rộng. Tuy nhiên, do hoạt động đối lưu trong khí quyển nằm ngay bên dưới thạch quyển, mảng thạch quyển bị tách thành nhiều phần. Vào thời điểm đó, Barrel không đề cập đến từ kiến ​​tạo mảng trong bài báo của mình. Ông chỉ đề cập đến thạch quyển là phần mạnh nhất của trái đất nằm trên một lớp yếu gọi là khí quyển. Nhưng nhờ bài báo của Barrel, các nhà khoa học sau này như Daly đã tìm cách hoàn thiện khái niệm kiến ​​tạo mảng nơi đồng bằng Trái đất được chia thành nhiều lục địa.

See also  Hotel Là Gì? Các Loại Hình Khách Sạn, Cơ Sở Lưu Trú Du Lịch

Các mảng kiến ​​tạo trong thạch quyển bao gồm hai phần. Cụ thể là mảng đại dương ở đáy biển và mảng lục địa nhìn thấy trên đất liền. Mảng đại dương rộng hơn nhưng mảng lục địa dày hơn.

Các thành phần của Lithosphere

Như đã giải thích trước đó, thạch quyển bao gồm một số loại đá và khoáng chất. Phần lớn thành phần của thạch quyển được cấu tạo từ đá. Nói chung, có ba loại đá tạo nên các lớp của trái đất – đá lửa, đá trầm tích, đá biến chất.

(Cũng đọc: Các loại đá và giải thích của chúng)

Đá Igneous (Igneus)

Đá Igneous là những loại đá được hình thành trực tiếp từ magma đông lạnh, thông qua quá trình xâm nhập magma hoặc quá trình đùn magma (Vui lòng đọc Sự khác biệt trong sự xâm nhập và đùn magma). Đá Igneous chiếm ưu thế trong thạch quyển với tỷ lệ khoảng 80%. Dựa vào vị trí xuất hiện, đá mácma được chia thành nhiều loại bao gồm đá mácma bên trong, đá mácma bên trong và đá mácma bên ngoài:

  • Deep Igneous Rocks, còn được gọi là plutonic hoặc abics, là những tảng đá mácma hình thành bên dưới bề mặt của thạch quyển. Các đá mácma sâu có hình thái tương đồng với nhau. Ví dụ về đá abic là đá granit, diorit và gabro.
  • Igneous Rocks Korok hay còn gọi là băng đá / Hypabisal là đá mácma hình thành trong ngõ (hẻm) giữa buồng magma và thạch quyển. Nói chung được hình thành do chuyển động xâm nhập magma. Magma bị mắc kẹt trong những đoạn này đóng băng nhanh hơn. Vì vậy mà các tinh thể khoáng được tạo thành có kích thước không giống nhau. Các tinh thể khoáng lớn không bằng nhau này là đặc điểm của đá băng. Ví dụ về đá mácma là đá granit porphyr, đá dự phòng diorit và liparit.
  • Outer Igneous Rocks hay còn gọi là đá núi lửa là đá mácma được hình thành do chuyển động đùn của magma. Vì vậy, quá trình đóng băng xảy ra trên bề mặt trái đất. Ví dụ về đá núi lửa là bazan, diorit, andesit và obsidian.
See also  Campuchia: Đặc điểm - Kinh tế và Tài nguyên thiên nhiên

Đá trầm tích

Đá trầm tích là loại đá được hình thành từ đá mácma hoặc các chất khác đã bị phong hóa sau đó lắng đọng và cứng lại. Đá trầm tích thường phân lớp theo chiều ngang. Trong đá trầm tích thường tìm thấy tàn tích của những sinh vật đã bị hóa đá, hay còn gọi là hóa thạch.

Dựa vào quá trình hình thành, đá trầm tích được chia thành ba phần. Cụ thể, trầm tích Clastic, hóa học và hữu cơ (Đọc thêm: Quá trình hình thành đá trầm tích và các loại của nó):

  • Trầm tích đông kết là đá trầm tích được hình thành do quá trình phong hóa hoặc xói mòn của các mảnh đá mácma hoặc các khoáng chất khác. Các mảnh đá lắng đọng ở một nơi nhất định và cứng lại. Do không bị biến đổi hóa học nên thông thường đá trầm tích clastic vẫn có những đặc điểm giống với đá gốc. Cả về màu sắc và hình dáng. Ví dụ về đá trầm tích clastic là cuội kết, đá phiến, đá vôi, san hô và đá sa thạch.
  • Đá trầm tích hóa học hay đá hóa học, là một loại đá trầm tích được hình thành do đá mácma hoặc các khoáng chất khác lắng đọng qua một quá trình hóa học. Trong kiểu này, một số phân tử của đá hoặc khoáng vật ban đầu được tách ra khỏi đá mẹ của chúng. Sau đó, nó kết hợp với các phân tử khác để tạo thành một loại đá trầm tích mới. Vì liên quan đến các phản ứng hóa học nên đá trầm tích hóa học có những đặc điểm rất khác so với đá gốc. Ví dụ về đá trầm tích hóa học là nhũ đá và măng đá được hình thành từ sự lắng đọng của nước trên vách hang động. (Vui lòng đọc: 4 Sự Khác Biệt Của Nhũ Đá và Măng Đá)
  • Đá trầm tích hữu cơ hay sinh học là loại đá trầm tích có nguồn gốc từ quá trình lắng đọng của các sinh vật còn sót lại ở một nơi nhất định. Ví dụ, đá, hóa thạch và than đá.
See also  Tổng hợp các máy photocopy mini đang chiếm lĩnh thị trường

Đá biến chất (Ngang)

Metamorphic dùng để chỉ từ biến thái có nghĩa là thay đổi dần dần. Gọi là đá biến chất vì loại đá này được hình thành từ đá mácma hoặc đá trầm tích trải qua những biến đổi (biến chất) do sự thay đổi của nhiệt độ và áp suất.

Là một dẫn xuất của các loại đá khác, đá biến chất được phân loại dựa trên quá trình hình thành (Vui lòng đọc: Quá trình hình thành đá biến chất và các loại của nó). Có ba loại đá biến chất, đó là:

  • Liên hệ Đá Melihan, là một loại đá biến chất được hình thành tuần tự do sự gia tăng nhiệt độ gây ra bởi các đá tiếp giáp với macma hoạt động. Do đó thường diện tích hình thành đá biến chất tiếp xúc không quá rộng. Ví dụ, đá cẩm thạch ở Tulung Agung và gạch ở Bukit Barisan.
  • Đá Malihan Dynamo, là một loại đá biến chất được hình thành do áp suất cao kèm theo nhiệt và va chạm. Áp lực này có thể đến từ các lớp khác bên trên đá. Một ví dụ là đá phiến.
  • Đá biến chất tiếp xúc Pneumatalitic (nhiệt-khí nén), là đá biến chất được hình thành do sự có mặt của các chất khác xâm nhập vào đá trong quá trình biến chất (biến đổi). Thực ra quá trình này cũng giống như đá biến chất tiếp xúc hoặc đá biến chất động lực học. Chỉ là trong quá trình đó có những chất khác đi vào đá. Do đó sản sinh ra một loại đá mới khác biệt. Ví dụ, nếu thạch anh được thêm vào khí borium, nó sẽ tạo thành topaz.

Bài viết Định nghĩa về thạch quyển và các ví dụ
được chia sẻ bởi Thommatngaymua.com vào 2022-01-14 08:53:02

Leave a Comment