Sự đa dạng của các dạng địa hình trên đất liền và đại dương

Hãy cùng tham khảo ngay bài viết Sự đa dạng của các dạng địa hình trên đất liền và đại dương
được cập nhật ngày 2022-01-15 07:05:09 để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhé

Sự tồn tại của các lực hình thành bề mặt trái đất, cụ thể là nội sinh và ngoại sinh, làm cho hình dạng bề mặt trái đất mà chúng ta đang sống là khác nhau. Sự khác biệt hoặc sự đa dạng về hình dạng của trái đất này được gọi là sự phù trợ. Nói một cách khái quát, phù điêu bề mặt trái đất được chia thành 2 loại, đó là cứu trợ đất liền và phù trợ đại dương. Sau đây là giải thích và ví dụ về sự đa dạng của các dạng bề mặt trái đất ở Indonesia. (đọc: Do Năng lượng Ngoại sinh)

Cứu trợ Đại lục

Nói chung, độ trợt đất là sự chênh lệch giữa độ cao và thấp của bề mặt trái đất trên đất liền. (đọc: Cấu trúc lớp của Trái đất)

Giải tỏa đất đai ở Indonesia bao gồm:

  1. núi

Là bề mặt trái đất nhô lên trên sao cho cao hơn xung quanh, có đỉnh, chân núi và được giới hạn bởi các sườn dốc xung quanh. Indonesia là một quốc gia có nhiều núi, bao gồm núi Merapi ở Trung Java, núi Rinjani ở Lombok, núi Semeru ở Đông Java và núi Kerinci ở Sumatra. (đọc: Danh sách các ngọn núi ở Tây Java)

  1. Núi

Là một cụm hoặc tập hợp các ngọn núi lớn hoặc nhỏ. Sự xuất hiện của các ngọn núi là do chuyển động sinh học tạo áp lực theo cả chiều ngang và chiều dọc, dẫn đến sự dịch chuyển hoặc biến dạng của vỏ trái đất. Các dãy núi được chia thành 2, cụ thể là:

  • núi cao – núi có độ cao hơn 1.500m so với mực nước biển.
  • núi thấp – núi có độ cao từ 500-1500 mét so với mực nước biển.

Ví dụ về các ngọn núi ở Indonesia là dãy núi Jaya Wijaya ở Papua, dãy núi Meratus ở Kalimantan và dãy núi Bukit Barisan ở Sumatra. Trong khi dãy núi dài nhất là dãy núi Andes ở Hoa Kỳ. (đọc: Ngọn núi cao nhất ở Indonesia)

  1. Dốc
See also  Webmoney có nghĩa là gì? Hướng dẫn sử dụng và Đăng ký Webmoney mới nhất

Là khu vực có bề mặt đất dốc. Độ dốc được chia thành 4 loại dựa trên mức độ dốc.

  • độ dốc thoải – với độ nghiêng 0 ° -5 °
  • độ dốc lớn – với độ nghiêng 5 ° -45 °
  • độ dốc lớn – với độ dốc 45 ° -70 °
  • độ dốc dọc – với độ nghiêng 70 ° -90 °

Một số ví dụ về sườn núi ở Indonesia là sườn núi Sindoro và sườn núi Merbabu.

  1. Bukit

Cụ thể là các khu vực trên bề mặt trái đất hoặc các ngọn núi có độ cao không quá 600 mét so với mực nước biển. Ví dụ như Bukit Tinggi ở Sumatra và Bukit Timah ở Singapore.

  1. Bình nguyên

Là một khu đất rộng tương đối dốc gần bằng phẳng. Đồng bằng được chia thành 3 vùng, cụ thể là:

  • Cao nguyên, còn gọi là bình nguyên là một vùng đất rộng lớn bằng phẳng ở vùng cao. Chiều cao của bức phù điêu này là khoảng 200 đến 1.500 mét so với mực nước biển. Sự hình thành cao nguyên là kết quả của quá trình xói mòn và bồi lắng, hoặc nguyên là từ một miệng núi lửa lớn bị vật chất núi vùi lấp. Ví dụ về những bức phù điêu này là Cao nguyên Gayo, Cao nguyên Dieng ở Trung Java và Cao nguyên Malang ở Đông Java. (đọc: Sự khác biệt ở Cao nguyên và Vùng thấp)
  • Vùng đất thấp, còn được gọi là đồng bằng phù sa, cụ thể là vùng đất rộng bằng phẳng với độ cao từ 0 đến 200 mét so với mực nước biển. Các vùng đất thấp thường phát sinh do phù sa sông. Ví dụ, vùng đất trũng Cianjur ở Tây Java và Bờ biển Bắc Java.
  • Đồng bằng ven biển, là một vùng đồng bằng nằm cạnh biển. Đồng bằng ven biển có độ cao dưới 200 mét so với mực nước biển. Nhìn chung, các đồng bằng ven biển bị mài mòn và xói mòn. Đồng bằng ven biển cũng có nhiều dạng bề mặt trái đất khác nhau, bao gồm:
    • vịnh – biển nhô vào đất liền
    • mũi đất hay mũi đất – phần đất nhô ra biển với phần cuối rất dài được gọi là bán đảo hay bán đảo
    • delta – vùng đất trầm tích ở cửa sông, sông đổ ra biển hoặc vào hồ. (đọc: Quá trình lắng)
    • thành than – một hòn đảo bị ngập khi nước biển dâng cao và nổi lên mặt nước khi thủy triều xuống. (đọc: Xói mòn ven biển)
  1. Pematang
See also  9 Giải pháp chữa cháy rừng ở Indonesia

Cụ thể là những ngọn đồi hoặc ngọn núi có đỉnh thẳng hàng. Ví dụ như những ngọn núi trên đảo Borneo.

  1. thung lũng

Thung lũng hay hẻm núi là hình dạng bề mặt trái đất có dạng lòng chảo dài và được bao bọc bởi các dãy núi hoặc dãy núi. Phù điêu này được hình thành do sự xói mòn của vỏ trái đất bởi nước hoặc băng. Các thung lũng được hình thành do xói mòn bởi băng được gọi là thung lũng sông băng thường được hình thành từ hàng nghìn năm trước. Ví dụ về các thung lũng là Thung lũng Baliem ở Papua, Sianok Canyon ở Tây Sumatra, Grand Canyon và Thung lũng Chết ở Hoa Kỳ, và Thung lũng Indus ở Pakistan.

Cứu trợ đại dương

Phù điêu đại dương là sự chênh lệch về độ cao và thấp của hình dạng đáy biển. Những bức phù điêu về đại dương ở Indonesia bao gồm:

  1. Máng biển

Còn được gọi là mương Là một đáy biển có hình dạng giống như chữ ‘V’, rất hẹp, dốc và có độ sâu hơn 5.000 mét. Nguyên nhân hình thành vùng phù điêu này là do đứt gãy hoặc chuyển động của vỏ trái đất. Ví dụ về các rãnh biển ở Indonesia là Rãnh Java với độ sâu 8.000 mét và Rãnh Mindanau với độ sâu 10.500 mét.

  1. Bên bờ biển

Ngưỡng biển hoặc ngưỡng cửa cụ thể là đáy biển nhô ra để ngăn cách vùng nước này với vùng nước khác. Một ví dụ là Ngưỡng biển Sulawesi. (đọc: Hồ nằm trên đảo Sulawesi)

  1. núi biển

Là ngọn núi được hình thành dưới đáy biển do hoạt động của núi lửa. Cũng có những vỉa có đỉnh cao đến mực nước biển, ví dụ như núi Krakatau ở eo biển Sunda.

  1. Biển cạn
See also  8 Hình thức Cứu trợ Dưới đáy biển và Giải thích của Chúng

Là một vùng biển có độ sâu dưới 200 mét. Ví dụ, biển Java, biển Arafuru và eo biển Karimata. (đọc: Division of the Sea)

  1. Biển sâu

Là một vùng biển có độ sâu hơn 200 mét. Ví dụ, biển Banda với độ sâu 7.440 mét, biển Banda với độ sâu 5.140 mét và biển Sulawesi với độ sâu 5.590 mét. (đọc: Các loại biển)

  1. Quang cảnh lục địa / Đường mòn lục địa

Các quan điểm lục địa cũng được đề cập thềm lục địa là vùng biển vẫn là một phần của đất liền hoặc lục địa với độ sâu trung bình 200 mét. Ví dụ về tiếp xúc lục địa là Kệ Sahul và Kệ Sunda. (đọc: Các châu lục trên thế giới)

  1. Độ dốc lục địa

Sườn lục địa có ký hiệu độ dốc lục địa độ dốc nằm giữa thềm lục địa và biển sâu. Các sườn lục địa sâu hơn 200 mét và sâu dưới 1.500 mét. Một ví dụ về độ dốc lục địa là Biển Đông. (đọc: Vùng biển)

  1. Độ sâu của biển

Đáy biển thường được gọi là mỏ là một khu vực có dạng lòng chảo sâu và rộng hình chữ ‘U’. Một ví dụ về biển sâu là lưu vực Sulawesi.

  1. Biển sau

Đó là phần đáy biển nhô lên nhưng đỉnh chưa nhô lên trên mực nước biển. Ví dụ về các gờ biển ở Indonesia bao gồm các gờ biển nằm ở phía nam của Java và phía nam của đảo Sumba. (đọc: Lợi ích của biển)

Bài viết Sự đa dạng của các dạng địa hình trên đất liền và đại dương
được chia sẻ bởi Thommatngaymua.com vào 2022-01-15 07:05:09

Leave a Comment